Chúng tôi thường được hỏi về tính linh hoạt. Tất nhiên, nếu không phải vì tính linh hoạt thì tại sao bạn lại cần một tấm ván "linh hoạt"?
“Liệu bo mạch mềm có bị nứt nếu sử dụng đồng ED trên đó không?”
Trong bài viết này, chúng tôi muốn nghiên cứu hai loại vật liệu khác nhau (ED - mạ điện và RA - cán và ủ) và quan sát tác động của chúng đến tuổi thọ mạch điện. Mặc dù điều này đã được ngành công nghiệp mạch in linh hoạt hiểu rõ, nhưng chúng ta vẫn chưa truyền đạt được thông điệp quan trọng này đến các nhà thiết kế mạch in.
Chúng ta hãy dành chút thời gian để xem xét lại hai loại lá kim loại này. Dưới đây là hình ảnh mặt cắt ngang của lá đồng RA và lá đồng ED:
Độ dẻo của đồng đến từ nhiều yếu tố. Tất nhiên, đồng càng mỏng thì mạch càng dẻo. Ngoài độ dày (hoặc mỏng), cấu trúc hạt đồng cũng ảnh hưởng đến độ dẻo. Có hai loại đồng phổ biến được sử dụng trong thị trường PCB và mạch linh hoạt: ED và RA như đã đề cập ở trên.
Lá đồng ủ cán (đồng RA)
Đồng cán ủ (RA) đã được sử dụng rộng rãi trong ngành sản xuất mạch mềm và chế tạo PCB cứng-mềm trong nhiều thập kỷ.
Cấu trúc hạt và bề mặt nhẵn mịn rất lý tưởng cho các ứng dụng mạch điện linh hoạt và năng động. Một lĩnh vực khác đáng quan tâm với các loại đồng cán là tín hiệu tần số cao và các ứng dụng liên quan.
Đã có bằng chứng chứng minh rằng độ nhám bề mặt đồng có thể ảnh hưởng đến suy hao chèn tần số cao và bề mặt đồng càng nhẵn thì càng có lợi.
Lá đồng mạ điện phân (ED copper)
Với đồng ED, có sự đa dạng rất lớn về các loại lá đồng liên quan đến độ nhám bề mặt, phương pháp xử lý, cấu trúc hạt, v.v. Nói chung, đồng ED có cấu trúc hạt thẳng đứng. Đồng ED tiêu chuẩn thường có bề mặt tương đối gồ ghề hoặc thô ráp hơn so với đồng cán ủ (RA). Đồng ED thường thiếu tính linh hoạt và không đảm bảo tính toàn vẹn tín hiệu tốt.
Đồng EA không phù hợp cho các đường dẫn nhỏ và có khả năng chịu uốn kém, do đó đồng RA được sử dụng cho PCB mềm.
Tuy nhiên, không có lý do gì để lo ngại về đồng ED trong các ứng dụng động.
Tuy nhiên, không có lý do gì để lo ngại về đồng ED trong các ứng dụng động. Ngược lại, nó là lựa chọn mặc định trong các ứng dụng tiêu dùng mỏng, nhẹ đòi hỏi tốc độ chu kỳ cao. Mối quan ngại duy nhất là kiểm soát cẩn thận vị trí sử dụng lớp mạ "phụ gia" cho quy trình PTH. Lá RA là lựa chọn duy nhất dành cho các vật liệu đồng có trọng lượng lớn hơn (trên 1 oz.) khi cần các ứng dụng dòng điện mạnh hơn và khả năng uốn cong động.
Để hiểu rõ ưu điểm và nhược điểm của hai loại vật liệu này, điều quan trọng là phải hiểu được lợi ích về cả chi phí và hiệu suất của hai loại lá đồng này, và cũng quan trọng không kém, những loại nào hiện có sẵn trên thị trường. Nhà thiết kế cần xem xét không chỉ những gì sẽ hiệu quả, mà còn cả việc liệu có thể mua được chúng với giá cả hợp lý để sản phẩm cuối cùng không bị loại khỏi thị trường do giá thành cao.
Thời gian đăng bài: 22 tháng 5 năm 2022

